thị trường đồ uống việt nam
Thức ăn nhanh Việt trỗi dậy. Theo đánh giá của Euromonitor, KFC và Lotteria tại thị trường Việt Nam sẽ tiếp tục giữ vị thế dẫn đầu nhưng tốc độ tăng sẽ chậm lại, do sức nóng của thị trường không còn "nóng" như cách đây 10 - 20 năm nữa. Đặc biệt, chuỗi cửa
ĐỒ UỐNG & THƯƠNG HIỆU Doanh nghiệp và thị trường Trên 400 gian hàng tham gia Vietfood & Propack Vietnam 2022 02/08/2022 Doanh nghiệp và thị trường VBA đóng góp ý kiến về dự thảo sửa đổi một số luật thuế 18/02/2022 Doanh nghiệp và thị trường Tetra Pak và Vinasoy cách mạng hóa trải nghiệm người dùng với công nghệ thực tế tăng cường 27/12/2021
Thị trường khởi sắc Theo số liệu của hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA), doanh số bán hàng của toàn thị trường của các đơn vị thành viên trong tháng 8/2022 đạt 30.846 xe các loại, tăng 2% so với tháng 7/2022. Trước đó vào tháng 7, doanh số xe cũng tăng đến 30% so với tháng liền trước.
Dựa vào các thông tin được cung cấp dưới đây để trả lời các câu từ 67 - 70. Thị trường sữa Việt Nam có 4 sản phẩm chính là sữa uống (sữa nước, sữa bột pha sẵn và sữa đậu nành), sữa bột (sữa bột công thức), sữa chua và sữa đặc. Ngoài ra còn các sản phẩm khác như kem, phô mai,
Ẩm thực ba miền Việt Nam - Ý tưởng, sáng tạo ẩm thực 3 miền của người Việt. Văn hoá ăn uống độc đáo khắp các miền đất nước, lễ hội ẩm thực thế giới Đưa dấu ấn Việt Nam vào kho Sơ đồ tư duy thế giới 12:00 08/06/2022 0. Tin 24h Tin nhanh 360° Tin thị trường
3.Trà sữa Kobucha Poly Khác với nhiều thương hiệu khác trên thị trường,Kobucha Poly là thương hiệu trà sữa nổi tiếng tại Việt Nam, do chính Việt Nam sản xuất và phân phối. Với niềm đam mê và theo đuổi xây dựng thương hiệu trà sữa thuần Việt, Kobucha Poly luôn cam kết khai thác và tận dụng các sản phẩm nông
Vaytiennhanh Home Credit.
Nhiều năm nay, Thực phẩm - Đồ uống luôn là một trong những ngành kinh tế quan trọng và đầy tiềm năng phát triển ở Việt Nam. Nhưng đứng trước tác động của đại dịch COVID-19, bức tranh toàn cảnh ngành Thực phẩm - Đồ uống đã thay đổi ra sao? Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc khoa học và khách quan. Các công ty được đánh giá, xếp hạng dựa trên 3 tiêu chí chính 1 Năng lực tài chính thể hiện trên báo cáo tài chính năm gần nhất; 2 Uy tín truyền thông được đánh giá bằng phương pháp Media Coding - mã hóa các bài viết về công ty trên các kênh truyền thông có ảnh hưởng; 3 Khảo sát đối tượng nghiên cứu và các bên liên quan người tiêu dùng, chuyên gia… được thực hiện trong tháng 8/2020. Danh sách 1 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2020 - Nhóm ngành Sữa và sản phẩm từ sữa Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tínngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020, tháng 09/2020 Danh sách 2 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2020 - Nhóm ngành Đường, bánh kẹo và thực phẩm dinh dưỡng khác Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tínngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020, tháng 09/2020 Danh sách 3 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2020 - nhóm ngành Thực phẩm đóng gói, gia vị, dầu ăn Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tínngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020, tháng 09/2020 Danh sách 4 Top 10 Công ty thực phẩm uy tín năm 2020 - Nhóm ngành Thực phẩm tươi sống, đông lạnh Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tínngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020, tháng 09/2020 Danh sách 5 Top 10 Công ty đồ uống uy tín năm 2020 - Nhóm ngành Đồ uống có cồn Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tínngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020, tháng 09/2020 Danh sách 6 Top 10 Công ty đồ uống uy tín năm 2020 - Nhóm ngành Đồ uống không cồn nước giải khát, trà, cà phê… Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty uy tínngành Thực phẩm - Đồ uống năm 2020, tháng 09/2020 Bức tranh toàn cảnh ngành Thực phẩm - Đồ uống Việt Nam năm 2020 Nhiều mảng sáng - tối đan xen Thực phẩm và Đồ uống F&B nằm trong nhóm ngành hàng tiêu dùng nhanh FMCG, nhiều năm nay luôn là một trong những ngành kinh tế quan trọng và còn nhiều tiềm năng phát triển của Việt Nam. Dự báo, ngành FMCG tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng từ 5-6% trong giai đoạn 2020-2025. Tình hình kinh tế vĩ mô ổn định là điểm sáng soi rõ những cơ hội và cả những thách thức lớn đối với ngành FMCG nói chung và F&B nói riêng. Đó là các hiệp định thương mại như EVFTA, CPTPP mở ra cơ hội xuất khẩu, lượng vốn đầu tư nước ngoài nhiều hơn, thu hút phát triển và chuyển giao công nghệ; đó là bài toán cải thiện môi trường kinh doanh với hệ thống luật pháp, cơ sở hạ tầng, giao thông hay các vấn đề liên quan đến phát triển bền vững… Sự thay đổi trong hành vi người tiêu dùng trở thành động lực dẫn dắt thị trường. Tập khách hàng phân mảnh hơn dẫn đến nhu cầu đối với từng nhóm sản phẩm cũng trở nên riêng biệt hơn. Các hộ gia đình với quy mô nhỏ hơn buộc các doanh nghiệp phải xây dựng các chiến lược khác đi. Và quan trọng nhất, với sự phát triển của công nghệ, người tiêu dùng đang “tự trao quyền” cho chính mình trong việc lựa chọn sản phẩm khi có đến 55% người dân tại thành thị và 59% người dân tại nông thôn dành thời gian tìm hiểu thông tin về sản phẩm trước khi mua sắm. Nói cách khác, chính người tiêu dùng hiện nay đang dẫn dắt thị trường, chứ không phải doanh nghiệp F&B. Thêm vào đó, mặc dù đang trong quá trình phát triển rực rỡ nhưng ngành F&B tại Việt Nam hiện được ví như một “ngôi làng” do thiếu sự quy hoạch đồng bộ, thiếu cơ quan chủ quản, mạnh ai người đó làm… “Ngôi làng” này năm nay vừa trải qua 2 cơn bão lớn là Nghị định 100 và đại dịch COVID-19. Trong khảo sát nhanh các doanh nghiệp trong ngành do Vietnam Report tiến hành tháng 8/2020, khoảng 50% số doanh nghiệp cho rằng hoạt động bị tác động ở mức độ nghiêm trọng, trong đó, nhóm đồ uống có cồn bị ảnh hưởng nặng nề hơn cả do còn chịu tác động của Nghị định 100. Hình 1 Tác động của dịch COVID-19 đến hoạt động sản xuất nói chung của doanh nghiệp Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Tuy nhiên, tác động của dịch bệnh đối với các nhóm sản phẩm trong ngành cũng có sự khác biệt đáng kể. Khảo sát người tiêu dùng của Vietnam Report chỉ ra rằng trên 50% khách hàng đã chi tiêu nhiều hơn cho các thực phẩm tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch, các thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên, hữu cơ, thực phẩm sạch và lành mạnh… trong khi đó, 63,7% khách hàng đã cắt giảm chi tiêu cho bia, rượu. Theo đó, các doanh nghiệp cũng phải điều chỉnh công suất hoạt động cho phù hợp. Trả lời phỏng vấn của Vietnam Report, đại diện một số doanh nghiệp trong ngành thực phẩm chia sẻ rằng họ đã tăng công suất hoạt động lên khoảng 30% để đáp ứng nhu cầu thị trường. Trái lại, năng lực sản xuất của nhóm doanh nghiệp đồ uống hiện chỉ hoạt động chủ yếu ở mức dưới 80% so với trước đại dịch. Hình 2 Chi tiêu hàng tháng của người tiêu dùng đối với một số nhóm thực phẩm - đồ uống thay đổi sau khi COVID-19 xuất hiện Nguồn Vietnam Report, Khảo sát người tiêu dùng Thực phẩm -Đồ uống, tháng 8/2020 COVID-19 đã phơi bày nhiều điểm yếu của ngành F&B, điển hình là các vấn đề liên quan đến logistics, phân phối, quản trị nhân sự. Hoạt động bán lẻ của ngành diễn ra qua những kênh sau truyền thống General Trade, hiện đại Modern Trade, nhà hàng Key account và chuỗi bán lẻ riêng của từng hãng nếu có; trong đó kênh truyền thống chiếm tỷ trọng đa số. Đối mặt với một cú sốc như COVID-19, 85,0% doanh nghiệp gặp khó khăn liên quan đến việc phân phối, logistics nhu cầu thực phẩm thiết yếu, đóng gói tăng cao nhưng lượng hàng lưu kho không đủ, doanh nghiệp phải tăng công suất để đáp ứng nhu cầu thị trường trong khi các nhà hàng đóng cửa khiến mức tiêu thụ đồ uống giảm xuống…94,7% doanh nghiệp đã nhận ra điểm yếu này và đang điều chỉnh lại cơ cấu tỷ trọng và mạng lưới phân phối của mình để có thể thích nghi với khủng hoảng. Đây cũng là một trong những hành động ưu tiên của ngành ứng phó với tác động của COVID-19. Một số biện pháp mà các doanh nghiệp đã áp dụng có thể kể đến như nhận đặt hàng/giao hàng tại nhà, tăng cường kênh giao nhận… Một khó khăn khác nữa mà doanh nghiệp trong ngành phải đối mặt chính là việc quản trị nhân sự khi số lượng lao động sử dụng khá lớn, vấn đề đảm bảo an toàn y tế và lao động tại nơi làm việc, phân chia lao động hợp lý… Bên cạnh đó là việc đứt gãy nguồn cung ứng nguyên liệu do không chủ động được nguồn cung… Hình 3 Top 5 khó khăn doanh nghiệp gặp phải do COVID-19 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Trả lời phỏng vấn của Vietnam Report, lãnh đạo một số doanh nghiệp F&B lớn cho rằng, quy mô doanh nghiệp trong ngành còn khá phân mảnh, tiềm lực tài chính yếu cho nên khi gặp một cú sốc lớn như COVID-19 họ thường sa vào vòng luẩn quẩn do phải xử lý dòng tiền, cắt giảm nhân sự, cắt giảm chi phí… Thế nhưng về cơ bản, nhu cầu ăn uống của con người là khó thay đổi, khi chúng ta chấp nhận “sống chung với bão”, doanh nghiệp lại đối mặt với bài toán thiếu hụt nhân sự, sản xuất không đủ để đáp ứng nhu cầu thị trường… Điều quan trọng là doanh nghiệp học được gì từ những cú sốc như thế này? Hình 4 Đánh giá chung của doanh nghiệp F&B về dịch COVID-19 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 68,4% doanh nghiệp trong ngành cho rằng COVID-19 đã tạo ra cú huých đẩy mạnh công cuộc chuyển đổi số. Bằng chứng là những doanh nghiệp đã xây dựng và ứng dụng quy trình công nghệ hiện đại trong hoạt động sản xuất và quản lý tỏ ra rất vững vàng trong khủng khoảng. Trừ những công nhân trực tiếp sản xuất tại nhà máy buộc phải làm luân phiên theo ca, tất cả các hoạt động khác của doanh nghiệp đều có thể điều khiển và giám sát từ xa thông qua các phần mềm, ứng dụng và hệ thống camera từ xuất, nhập kho, giao nhận, bán hàng, phân phối hay các cuộc họp trực tuyến kết nối các chi nhánh trên khắp cả nước… Thêm vào đó, 63,2% doanh nghiệp cho rằng đây là cơ hội để đẩy nhanh đổi mới sáng tạo. Đổi mới từ hệ thống phân phối điều chỉnh tỷ trọng giữa kênh truyền thống và kênh hiện đại, phát triển các ứng dụng tăng cường trải nghiệm khách hàng khi mua sắm, đổi mới từ thiết kế bao bì, nhãn hiệu sản phẩm thân thiện với môi trường, đổi mới từ phát triển các dòng sản phẩm tăng cường sức đề kháng và hệ miễn dịch hơn… Quan trọng hơn cả, COVID-19 chính là điều kiện tạo ra những thay đổi sâu sắc trong chiến lược của ban lãnh đạo. Vietnam Report tin rằng, với những bài học kinh nghiệm đúc kết từ khủng hoảng, cộng đồng doanh nghiệp F&B sẽ ngày một vững mạnh hơn trong tương lai. Triển vọng lạc quan về ngành trong thời kỳ bình thường mớiMặc dù bị tác động nghiêm trọng do COVID-19 nhưng có đến gần 58% doanh nghiệp trong ngành đánh giá triển vọng ngành trong 6 tháng cuối năm 2020 khá tích cực, trên 50% doanh nghiệp có niềm tin rõ rệt vào sự phục hồi kinh tế nhanh chóng của Việt Nam. Hình 5 Triển vọng toàn ngành F&B trong 6 tháng cuối năm 2020 so với 6 tháng đầu năm Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Thời gian phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng được dự báo khá tích cực với 56,3% số doanh nghiệp ước tính mất khoảng 6 tháng, 25% số doanh nghiệp mất khoảng 7-12 tháng và 18,7% mất nhiều hơn 12 tháng. Các doanh nghiệp đồ uống mất nhiều thời gian hơn so với các doanh nghiệp thực phẩm. Hình 6 Thời gian dự kiến để doanh nghiệp có thể phục hồi hoạt động SXKD như trước đây Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Chuẩn bị cho giai đoạn bình thường mới, các doanh nghiệp trong ngành cho rằng Top 5 chiến lược ưu tiên bao gồm 1 Tăng trưởng doanh thu; 2 Ưu tiên phát triển thị trường hiện tại; 3 Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển sản phẩm; 4 Đa dạng hóa nguồn cung ứng, ưu tiên nguồn cung trong nước; và 5 Mở rộng, phát triển các kênh phân phối online trên nền tảng thương mại điện tử. Tất cả 5 chiến lược này đều được đúc kết từ chính những sai lầm, khó khăn của doanh nghiệp trong quá trình ứng phó với COVID-19 vừa qua. Hình 7 Top 5 chiến lược ưu tiên của doanh nghiệp F&B trong bối cảnh bình thường mới Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Xu hướng ngành Thực phẩm - Đồ uống trong bối cảnh bình thường mới Như đã phân tích ở trên, thói quen và thị hiếu người tiêu dùng chính là động lực dẫn dắt xu hướng ngành. Trước COVID-19, ngành F&Bđã có một số xu hướng lớn hình thành, điển hình như nhu cầu về thực phẩm dinh dưỡng có nguồn gốc thực vật, thực phẩm hữu cơ, thành phần dinh dưỡng lành mạnh, thực phẩm đóng gói tiện dụng, tăng cường trải nghiệm khách hàng…Những xu hướng này không bị ảnh hưởng do COVID-19 mà ngược lại tiếp tục phát triển trong thời gian tới. Hình 8 Dự báo nhu cầu tiêu dùng một số nhóm Thực phẩm -Đồ uống trong ít nhất 6 tháng tới Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Bên cạnh đó, khảo sát của Vietnam Report đã chỉ ra một số xu hướng diễn ra trong hiện tại và trong tương lai khi doanh nghiệp khôi phục hoạt động sản xuất kinh doanh. Những xu hướng trong ngắn hạn có thể kể đến như 1 Làm việc từ xa; 2 Dịch chuyển thói quen từ ăn uống tại nhà hàng sang tại nhà; 3 Mối lo ngại về thực phẩm nhập khẩu. Đây được đánh giá là xu hướng nhất thời do những ảnh hưởng của giãn cách xã hội và lockdown trong giai đoạn bùng phát của dịch. Về lâu dài, 55,6% doanh nghiệp cho rằng làm việc từ xa sẽ trở nên phổ biến hơn, 2 xu hướng còn lại sẽ thoái trào do các hiệp định thương mại như EVFTA và nhu cầu giao lưu, gặp mặt, ăn uống tại nhà hàng của giới trẻ rất lớn. Xét trong dài hạn, các xu hướng chính bao gồm 1 Áp dụng công nghệ trong kinh doanh nhiều hơn; 2 Giao dịch thương mại điện tử trở nên phổ biến hơn; 3 Phân bổ lại nguồn đầu vào trong các chuỗi cung ứng; và 4 Tái cấu trúc/ định vị hình ảnh tại các thị trường hiện tại. Trong đó, 3 xu hướng đầu nằm trong giai đoạn đổi mới doanh nghiệp thuộc mô hình hành động 5 giai đoạn 5Rs ứng phó với COVID-19 mà Vietnam Report đã giới thiệu vào tháng 4/2020. Hình 9 Một số xu hướng ngành F&B trong và sau khủng hoảng do COVID-19 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát doanh nghiệp ngành Thực phẩm - Đồ uống, tháng 8/2020 Công thức thương hiệu thời kỳ bình thường mới Như đã phân tích ở trên, việc tái cấu trúc/ định vị hình ảnh doanh nghiệp trong thời kỳ bình thường mới là xu hướng tất yếu. Khảo sát người tiêu dùng của Vietnam Report được thực hiện trong tháng 8/2020 đã điểm mặt một số thương hiệu tiêu biểu được người tiêu dùng lựa chọn nhiều nhất phân theo nhóm sản phẩm bao gồm Tường An dầu ăn, Orion Vina bánh kẹo, Chinsu gia vị, Vissan thực phẩm tươi sống, Acecook thực phẩm đóng gói, Vinamilk sữa, Lipton trà, Heineken bia, rượu, Trung Nguyên cà phê, Lavie nước khoáng và Coca-cola nước giải khát… Hình 10 Các thương hiệu thực phẩm - đồ uống được người tiêu dùng lựa chọn nhiều nhất năm 2020 phân theo nhóm sản phẩm Nguồn Vietnam Report, Khảo sát người tiêu dùng Thực phẩm -Đồ uống, tháng 8/2020 Khảo sát cũng chỉ ra rằng, uy tín thương hiệu là yếu tố hàng đầu họ xem xét khi lựa chọn sản phẩm thực phẩm - đồ uống bên cạnh chất lượng, giá cả, mức độ đa dạng hay sự tiện lợi trong hệ thống mua sắm. Hình 11 Top 5 lý do lựa chọn thương hiệu thực phẩm - đồ uống Nguồn Vietnam Report, Khảo sát người tiêu dùng Thực phẩm -Đồ uống, tháng 8/2020 Câu hỏi đặt ra là Xây dựng thương hiệu uy tín có khó không? Xây dựng một thương hiệu mạnh cần mất nhiều thời gian. Để có thể giành được sự tín nhiệm và tôn trọng từ khách hàng, doanh nghiệp cần cho thấy rằng cam kết với khách hàng là lẽ sống còn của mình. Để xây dựng được thương hiệu mạnh, doanh nghiệp cần phát triển đồng thời 7 khía cạnh sau Sản phẩm, Đổi mới, Môi trường làm việc, Trách nhiệm xã hội, Năng lực quản trị, Khả năng lãnh đạo và Kết quả kinh doanh, chứ không phải chỉ 1 hoặc 2 khía cạnh. Đánh giá uy tín của doanh nghiệp Thực phẩm - Đồ uống cần quan tâm đến tất cả các bên liên quan như người tiêu dùng, đối tác, đối thủ cạnh tranh, nhà đầu tư, nhà phân phối, nhân viên trong chính doanh nghiệp đó… Thời mà doanh nghiệp gây dựng uy tín chỉ dựa vào sản phẩm tốt đã qua rồi, ngày nay, việc định nghĩa doanh nghiệp của bạn là ai quan trọng hơn việc doanh nghiệp bạn bán gì. Theo nhận định của Vietnam Report, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc kết nối trực tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận diện thương hiệu uy tín tốt hơn khi đưa ra quyết định mua sắm. Kết quả phân tích truyền thông cho thấy, sự hiện diện trên truyền thông của các doanh nghiệp ngành Thực phẩm -Đồ uống ngày càng được cải thiện. Khoảng 73,6% số doanh nghiệp được nghiên cứu có lượng thông tin đạt ngưỡng nhận thức xem thêm box ghi chú, trong đó 71,6% có tần suất xuất hiện tối thiếu 1 lần/ 1 tháng. Về độ đa dạng thông tin, 30,9% số doanh nghiệp có thông tin bao phủ 10/24 số nhóm chủ đề có liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp. 4 nhóm chủ đề thường được đề cập đến nhiều nhất bao gồm Tài chính/ Kết quả kinh doanh 18,5%, Hình ảnh/PR/Scandals 18,0%, Sản phẩm 10,4% và Cổ phiếu 10,3%. Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là "an toàn" khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng "tốt nhất" là trên 20%. Trong ngành Thực phẩm - Đồ uống, hiện có khoảng 45,5% số doanh nghiệp đạt mức 10% này, cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm trước 28,0%. Kết quả phân tích truyền thông cũng chỉ ra rằng, tần suất xuất hiện trên truyền thông dày đặc chưa hẳn đã đạt được hiệu quả về chất lượng thông tin, buộc doanh nghiệp trong ngành phải thực sự quan tâm hơn đến bài toán “lượng” và “chất” Hình 13. Hình 12 Tỷ lệ doanh nghiệp đạt ngưỡng “an toàn” về chất lượng thông tin trên truyền thông Nguồn Vietnam Report, Dữ liệu Media coding ngành Thực phẩm - Đồ uống tại Việt Nam từ tháng 9/2019 đến tháng 8/2020 Hình 13 Những doanh nghiệp thực phẩm - đồ uống thu hút truyền thông nhiều nhất Nguồn Vietnam Report, Dữ liệu Media coding ngành Thực phẩm - Đồ uống tại Việt Nam từ tháng 9/2019 đến tháng 8/2020 Tuy nhiên, sức mạnh truyền thông không chỉ thể hiện ở tần suất xuất hiện, độ đa dạng hay chất lượng thông tin mà còn thể hiện ở nhiều khía cạnh khác, trong đó bao gồm nguồn thông tin. Tỷ lệ thông tin có nguồn từ doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 18,8%. Điều này cho thấy các doanh nghiệp trong ngành còn khá dè dặt với truyền thông khi để phần lớn lượng thông tin cho báo chí tự khai thác. Đây cũng là bài toán khó cho các doanh nghiệp đặc biệt trong bối cảnh công nghệ hiện đại và thông tin đa chiều như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực sự vào cuộc và tăng cường tiếng nói của chính mình trên truyền thông. Top 10 Công ty uy tín ngành Thực phẩm - Đồ uống là kết quả nghiên cứu độc lập của Vietnam Report được công bố từ năm 2017. Từ năm 2012, Vietnam Report đã sử dụng phương pháp Media Coding mã hóa dữ liệu báo chí để tính điểm uy tín của các doanh nghiệp trên truyền thông. Kể từ đó đến nay, nhiều bảng xếp hạng Top 10 thuộc các ngành trọng điểm và có tiềm năng tăng trưởng cao của Việt Nam cũng đã được định kỳ công bố thường niên như Bất động sản, Xây dựng, Công nghệ thông tin, Ngân hàng, Bảo hiểm, Dược, Du lịch, Doanh nghiệp niêm yết. Phương pháp nghiên cứu phân tích truyền thông để đánh giá uy tín của các công ty dựa trên học thuyết Agenda Setting về sự ảnh hưởng, tác động của truyền thông đại chúng đến cộng đồng và xã hội được 2 giáo sư Maxwell McCombs và Donald L. Shaw chính thức công bố vào năm 1968, được Vietnam Report và các đối tác hiện thực hóa và áp dụng. Theo đó, Vietnam Report đã sử dụng phương pháp Branch Coding đánh giá hình ảnh của công ty trên truyền thông để tiến hành phân tích uy tín của các công ty thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam. Vietnam Report tiến hành mã hóa coding các bài báo viết về ngành thực phẩm - đồ uống được đăng tải trên các đầu báo có ảnh hưởng trong thời gian từ tháng 9/2019 đến tháng 8/2020. Các bài báo được phân tích và đánh giá ở cấp độ câu chuyện story - level về 24 khía cạnh hoạt động cụ thể của các công ty từ sản phẩm, kết quả kinh doanh, thị trường... tới các hoạt động và uy tín của lãnh đạo công ty. Các thông tin được lựa chọn mã hóa coding dựa trên 2 nguyên tắc cơ bản Tên công ty xuất hiện ngay trên tiêu đề của bài báo, hoặc tin tức về công ty được đề cập tối thiểu chiếm 5 dòng trong bài báo, đây được gọi là ngưỡng nhận thức - khi thông tin được đánh giá là có giá trị phân tích. Các thông tin được đánh giá ở các cấp độ 0 Trung lập; 1 Tích cực; 2 Khá tích cực; 3 Không rõ ràng; 4 Khá tiêu cực; 5 Tiêu cực. Tuy nhiên, thống kê lại, nhóm nghiên cứu đưa ra 3 cấp bậc để đánh giá cuối cùng, bao gồm Trung lập gồm 0 và 3, tích cực 1 và 2, và tiêu cực 4 và 5. Những nhận định trong thông cáo mang tính tổng quát và tham khảo cho các doanh nghiệp, đối tác; không phải nhận định cá nhân và không phục vụ mục đích hay nhu cầu của bất cứ nhà đầu tư cụ thể nào. Do đó, các bên liên quan nên cân nhắc kỹ tính phù hợp của các thông tin trên trước khi sử dụng để đưa ra quyết định đầu tư và hoàn toàn chịu trách nhiệm trong việc sử dụng các thông tin đó. Vietnam Report
Tiềm năng thị trường Trước đại dịch COVID-19, thị trường bia rượu nước giải khát Việt Nam là một thị trường giàu tiềm năng, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội. Những con số không nói dối về sự phát triển của ngành hàng này, khi ước tính đến đến cuối năm 2020, Việt Nam có khoảng cơ sở sản xuất nước giải khát cung cấp việc làm trực tiếp cho hơn lao động và việc làm gián tiếp cho hàng triệu lao động. Trong khi đó, giai đoạn 2015 – 2019 được xem là giai đoạn hoàng kim của ngành hàng này. Theo Euromonitor, giai đoạn này, thị trường tăng trưởng trung bình 8,4%/năm. Dù còn kém xa mức 40 lit/người/tháng của thị trường thế giới, song, thị trường đồ uống Việt vẫn cho thấy tiềm năng to lớn, chiếm tỉ trọng 4,5% trong nhóm ngành sản xuất kinh doanh dịch vụ, đóng góp gần 50 nghìn tỷ đồng vào ngân sách nhà nước. Một viễn cảnh tươi sáng cho ngành hàng này cho đến khi đại dịch COVID-19 xuất hiện. Theo Tổng cục Thống kê, kết quả sản xuất, kinh doanh và lao động của ngành đồ uống năm 2020 có sự sụt giảm đáng kể so với năm 2019. Cụ thể, doanh thu toàn ngành năm 2020 giảm mạnh tới 17% so với năm 2019; còn doanh thu của khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giảm 19% so với năm 2019. Doanh số sụt giảm, dẫn đến sự sụt giảm nghiêm trọng về lợi nhuận. So với năm 2019, lợi nhuận trung bình của ngành nước giải khát năm 2020 giảm đến 94,96%. Tác động của dịch COVID-19 cũng ảnh hưởng không nhỏ tới việc làm của người lao động trong ngành sản xuất và kinh doanh nước giải khát khi số lượng lao động giảm 4%, trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đã phải cắt giảm 7% số lượng lao động. Cũng trong năm 2020, mức giảm về thu nhập trung bình của lao động trong ngành nước giải khát là 7% so với năm 2019. Năm 2021, doanh thu thuần của ngành nước giải khát giảm 4,8% so với năm 2020 trong khi lợi nhuận thuần của ngành này giảm tới 31,4%. Đối diện với khó khăn Đã có nhiều nét phác sáng sủa cho khả năng phục hồi và tăng trưởng của bức tranh thị trường đồ uống trong năm 2022. Tuy nhiên, gam màu chủ đạo vẫn ảm đạm, trong bối cảnh chiến tranh Nga – Ukraine căng thẳng, lạm phát và vật giá leo thang. Theo khảo sát thực tế, giá bia rượu và nước giải khát đã tăng lên đáng kể từ khi thị trường mở cửa trở lại sau thời gian phong tỏa vì đại dịch. Đơn cử như Heineken, sản phẩm chủ lực của công ty Heineken Việt Nam đang có giá trên dưới đồng/lon 330ml, tùy nơi bán, sản phẩm Heineken Silver có giá đồng/lon 330ml. "Người anh em" của Heineken là Tiger cũng không kém cạnh, với mức giá xoay quanh mốc đồng/lon 330ml dành cho 3 dòng sản phẩm Tiger, Tiger Crystal và Tiger Platinum.... Bà Ngân, chủ một cửa hàng tạp hóa trên địa bàn quận Bình Tân tiết lộ với phóng viên, trung bình một tháng, cửa hàng của bà bán không dưới 30 thùng nước giải khát và 50 thùng bia mỗi loại. Con số có thể cao hơn ở các tháng 6, 7, 8 những tháng được xem là khô nóng đỉnh điểm. Tuy nhiên, thời gian gần đây doanh số bắt đầu chững lại và hàng đi nhỏ giọt, không còn đều đặn như trước. Theo bà Ngân, giá bia và nước ngọt tăng là một phần nguyên nhân khiến cho doanh số ngành hàng này không còn được cao như trước. Nhiều chủ đại lý như bà cũng không dám nhập hàng về quá nhiều trong một đợt mà phải đợi đẩy hết hàng tồn. Trong khi đó, ở góc độ người tiêu dùng, chị Bùi Thị Ngọc ngụ Tân Bình cho biết "Ông xã tôi thích uống bia trong mỗi bữa cơm nên tôi luôn mua bia để tủ lạnh. Hồi trước còn chứ giờ đã tăng lên tới đồng. Tình hình giá cả này thì có thể tôi sẽ phải tính toán cắt bia của ông xã bù vào tiền sữa cho các con". Theo các chuyên gia, việc giá cả thị trường tăng cao là điều tất yếu khi giá nguyên vật liệu đầu vào đều leo thang. Chi phí sản xuất tăng, chi phí nhân công, vận hành cũng phải tăng… dẫn đến tình trạng chung của toàn thị trường. Các chuyên gia cũng cho rằng trụ cột của thị trường tiêu dùng hiện tại là Gen Y 1981 – 1995 và Gen Z 1996 – 2014. Đây cũng là đối tượng khách hàng chính của ngành hàng mang tính đặc thù này. Nếu như gen Y phần nào đã trải qua những khó khăn từ cuộc khủng hoảng kinh tế giai đoạn 2008 – 2010, thì gen Y, thế hệ sinh ra và lớn lên cùng công nghệ sẽ lần đầu đối mặt với cuộc khủng hoảng sắp tới. Theo Forbes, khía cạnh trải nghiệm của thế hệ trẻ đang thay đổi. Khảo sát Gen Z và Millennial Gen Y năm 2022 của Deloitte cho thấy mối lo lớn nhất là nển tảng tài chính bấp bênh của họ trong thế giới ngày càng đắt đỏ. Còn mối quan tâm cấp bách nhất của thế hệ này không còn là nhu cầu trải nghiệm, hưởng thụ cuộc sống nữa. Sự chuyển dịch mối quan tâm trong khảo sát cho thấy thực tế thị trường. Khi chi phí sinh hoạt, bao gồm tiền thuê nhà, phương tiện đi lại và các hóa đơn điện, nước mới là mối quan tâm hàng đầu của 29% những người lao động ở độ tuổi Gen Z. Trong khi đó, 46% chia sẻ rằng toàn bộ thu nhập của họ chỉ đủ chi trả sinh hoạt phí, không dành dụm được đồng nào. Chỉ 25% số này có thể thoải mái chi tiêu hàng tháng. Trong một hội thảo gần đây, bà Chu Thị Vân Anh, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Bia – Rượu – Nước Giải Khát Việt Nam cho biết, trong giai đoạn khó khăn của thị trường, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ đã có những tác động tích cực nhất định, phần nào cải thiện tình trạng khó khăn của người dân và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các gói hỗ trợ doanh nghiệp, người lao động lần thứ nhất tuy kịp thời, nhưng chưa có tác động rõ nét đến doanh nghiệp, mức độ hấp thụ của doanh nghiệp rất thấp. Một số chính sách giãn thuế, bảo hiểm xã hội, tiền thuê đất,… đối với doanh nghiệp tuy đã giúp doanh nghiệp bớt nỗi lo về thanh khoản, dòng tiền nhưng thời gian áp dụng ngắn, số lượng không lớn nên chưa thể giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn. Đáng chú ý, có nhiều gói hỗ trợ nhằm kích thích tiêu dùng, hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh thông qua giảm một số loại phí như Nghị định số 70/2020/NĐ-CP ngày 28/6/2020, nhưng lại không có cơ chế riêng nào áp dụng đối với ngành đồ uống nói chung cũng như ngành nước giải khát nói riêng. Người đại diện của Hiệp hội cho biết, cần chú trọng việc duy trì sự ổn định về các chính sách thuế đối với những ngành kinh tế bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch trong thời hạn ít nhất là 5 năm tới, không mở rộng đánh thuế mới theo hướng bất lợi hơn cho doanh nghiệp nước giải khát đã và đang bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch bệnh. Bà Chu Thị Vân Anh cũng lưu ý rằng, với độ co giãn của cầu theo giá, việc tăng hay áp thêm thuế dẫn tới tăng giá hàng hóa sẽ ảnh hưởng tới sức mua và tiêu dùng nội địa và từ đó sẽ tác động tiêu cực đến sản xuất, doanh thu từ hoạt động kinh doanh, mức đóng góp thuế và cơ hội việc làm của người lao động. "Việc tăng thuế hoặc bổ sung thêm các đối tượng chịu thuế TTĐB sẽ đẩy giá một số mặt hàng và dịch vụ lên cao, tăng khả năng lạm phát, trong khi có thể không giúp tăng thu ngân sách. Ví dụ, theo một nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương năm 2018, nếu áp thuế tiêu thụ đặc biệt 10% đối với đồ uống có đường, doanh thu của ngành đồ uống sẽ giảm tỷ đồng, đồng thời gây ảnh hưởng đến nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực chuỗi cung ứng cũng như toàn bộ nền kinh tế", bà Chu Thị Vân Anh nhận định. Cụ thể, giá trị nền kinh tế được dự báo sẽ giảm 0,14%; GDP giảm 0,12%; thu nhập từ sản xuất giảm 0,16%; cơ hội việc làm giảm 0,11%; và thuế gián thu từ ngành sản xuất có thể giảm từ 0,07 đến 0,09%. Như vậy, sau giai đoạn hoàng kim tăng trưởng mạnh, thị trường đồ uống Việt Nam có thể sẽ phải tiếp tục đối mặt với viễn cảnh khó khăn trong năm 2022.
Sau hơn 2 năm ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid 19, thế giới đang lấy lại sự cân bằng trong kinh tế và các ngành sản xuất. Trong đó, kinh doanh các sản phẩm nước đóng chai đang ngày càng bình ổn bởi nhu cầu người tiêu dùng quay trở lại. Cuộc đua trở lại thị trường đồ uống Việt Nam của các ông lớn đã kéo theo sự nhộn nhịp của đa dạng các mặt hàng sản phẩm, thị trường tăng trưởng trở lại đi kèm với nhiều sức ép và những cơ hội cho doanh nghiệp giai đoạn cuối năm 2022. Theo dõi các thông tin đáng chú ý về ngành hàng trong bài viết dưới đây! Bài viết liên quan Thị trường đồ uống ở Việt Nam qua góc nhìn chuyên gia Phân loại các loại nước đóng chai thịnh hành trên thị trường Việt Nam Làm thế nào để chiến thắng ở thị trường nước tăng lực Việt Nam? Ngành nước giải khát Việt Nam chịu nhiều sức ép và khó khăn 1. Bản tin thị trường nước giải khát Mặc dù không nằm trong top 10 đất nước sở hữu mức doanh thu nước giải khát cao nhất trong lĩnh vực tiêu thụ nước giải khát. Nhưng Việt Nam cũng có số liệu khá ấn tượng và tăng đều qua các năm. Cụ thể bình quân người Việt sẽ tiêu thụ khoảng 23 lít nước đóng chai/người/năm Theo số liệu từ báo cáo Ngành Đồ uống Việt Nam phục hồi và phát triển trong thời kỳ mới” do Hiệp hội Bia – Rượu – Nước Giải Khát Việt Nam công bố. Tình đến thời điểm năm 2020, có gần 2000 đơn vị sản xuất nước giải khát tại Việt Nam. Cụ thể theo thống kê năm 2020 có 85% sản lượng nước đóng chai tiêu thụ từ nước ngọt, nước ép hoa quả, trà uống liền, nước tăng lực, bia…. Còn lại 15% nước khoáng chiếm phần còn lại trên tổng tiêu thụ. Ngành đồ uống có cồn và không cồn đã có sự góp phần lớn chiếm 4,5% trong lĩnh vực kinh doanh, sản xuất điều này tương ứng với doanh thu hơn 20 tỷ đồng. Thị trường đồ uống Việt Nam luôn được đánh giá có tiềm năng phát triển cao, khi trong Nhật Bản và Pháp chỉ kỳ vọng đạt mức tăng trưởng 2%/ năm, thì Việt Nam giữ vững phong độ duy trì được từ 6 – 7%/ năm. Đặc biệt với mức tiêu thụ này thì vào năm 2021 sản lượng các loại nước giải khát tại Việt Nam có thể đạt từ 8,3 – 9,2 tỷ lít/năm. Trong đó, thị trường nước có gas chiếm 23,74 % nhưng không phải là con số lớn nhất trong các loại nước đóng chai trên thị trường. Sản phẩm trà chiếm đến 36,97%, nước tăng lực 18,28 %, nước ép hoa quả là 10,91 % và nước khoáng là 5,45 % . Đặc biệt khi ngày càng có nhiều sản phẩm được nghiên cứu ra đời, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng hiện nay. Đến nay, các cơ sở sản xuất đồ uống đóng chai đã đạt đến con số 1800. Đây là con số khá ấn tượng và thể hiện những tiềm năng phát triển mà Việt Nam mang lại cho các sản phẩm nước giải khát hiện nay. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của đa dạng các loại phân khúc thị trường nước giải khát cũng mang đến sự thúc đẩy lớn trong quá trình sản xuất, kinh doanh sản phẩm đóng chai. Ngành nước giải khát nhiều tiềm năng nhưng không kém các thử thách từ khách hàng 2. Sức ép và khó khăn từ người dùng Có thể thấy dựa trên những số liệu trên Việt Nam hiện đang là một trong những đất nước có ngành sản xuất nước giải khát bình ổn, phát triển tốt. Điều này mặc dù mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng gây nên sức ép, khó khăn cho các doanh nghiệp từ phía người dùng. Nhiều ông lớn, độc quyền Hiện nay các doanh nghiệp mới khá khó khăn trong việc “chen chân” và thu hút người tiêu dùng. Bởi các “ông lớn” có danh tiếng, quy mô và sản phẩm độc quyền, đa dạng đã chiếm được sự tin tưởng lựa chọn của nhiều khách hàng. Trong đó có thể kể đến PepsiCo xuất hiện tại thị trường đồ uống Việt Nam chỉ với hai sản phẩm là Pepsi và 7-Up, nhưng đến năm 2016 thương hiệu đã cho ra đời 11 nhãn hiệu sản phẩm nước đóng chai khác nhau cho người dùng dễ dàng lựa chọn. Người tiêu dùng ngày một khó tính và “thông minh hơn” Hiện nay các thương hiệu ngoài việc tạo nên một loại nước uống ngon là không đủ, mà cần đảm bảo vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, nguồn gốc rõ ràng và tốt sức khỏe cho người tiêu dùng. Đây cũng là một trong những yếu tố khá được quan tâm trên thị trường ngày càng đa dạng thương hiệu nước đóng chai. Bên cạnh đó, người dùng cũng đang ngày càng khó tính hơn trong việc lựa chọn sản phẩm. Theo như nghiên cứu thị trường Mintel thì ngành ẩm thực và nước giải khát đã thay đổi 12 xu hướng. Trong đó, trào lưu sử dụng các loại nước có chứa thành phần, nguyên liệu tự nhiên, an toàn cho sức khỏe được người tiêu dùng coi trọng và đề cao. Sự thay đổi của người tiêu dùng gây khó khăn cho doanh nghiệp Ngày càng chú ý đến nhãn hàng, nguyên liệu Nếu trước đây thị trường nước đóng chai dễ dàng tiếp cận đa dạng các sản phẩm cho khách hàng, thì hiện nay doanh nghiệp phải đối mặt với sự khắt khe của người dùng. Cụ thể đa phần thị trường nước giải khát đang ngày càng hướng về lựa chọn sản phẩm đến từ thương hiệu uy tín, rành mạch trong quy trình sản xuất. Đồng thời, chọn lọc nguyên liệu nguyên liệu đúng chuẩn và cung cấp thông tin thành phần, có cam kết chất lượng. Do tiếp cận với thị trường đa dạng, sự trung thành đối với thương hiệu ngày càng giảm Nếu muốn tiếp cận với “miếng bánh” nước giải khát hiện nay thì các sản phẩm phải đa dạng, đặc sắc, đánh vào nhiều nhu cầu lựa chọn khác nhau từ người dùng. Song, sự đa dạng này cũng khiến cho lòng trung thành của khách hàng ngày càng giảm, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc duy trì lượng khách hàng ổn định. Với sức ép từ thị trường và người tiêu dùng hiện nay việc nghiên cứu sản xuất thử nghiệm nước giải khát rất cần thiết. Bởi để đáp ứng nhu cầu, sở thích và tạo nên sự đổi mới trong các sản phẩm doanh nghiệp cần cho ra mắt những dòng nước mới, chất lượng, an toàn với sức khỏe. Trong đó, Win R&D nổi bật với nhiều năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất các loại nước đóng chai trên thị trường. Từ đó đảm bảo doanh nghiệp được đáp ứng về mặt hương vị, chất lượng, nguồn gốc và tính an toàn cho người tiêu dùng. Không những vậy, Win R&D còn đảm bảo giúp các thương hiệu gây nên ấn tượng trên thị trường nhờ sự sáng tạo, đổi mới không ngừng trong hương vị các loại nước giải khát. Cùng với mức chi phí tối ưu, thời gian nhanh chóng thì đây chắc chắn sẽ là lựa chọn tốt cho quá trình tiếp cận, phát triển của các thương hiệu nước đóng chai. Win R&D là lựa chọn hàng đầu trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm trong lĩnh vực nước giải khát Việt Nam Tiềm năng phát triển của thị trường đồ uống Việt Nam có cơ hội lớn mạnh nếu các doanh nghiệp biết cách khắc phục các khó khăn. Đồng thời, tạo nên những sản phẩm mới lạ, thu hút và đảm bảo chất lượng về hương vị, độ an toàn đối với sức khỏe người dùng. Để có thêm thông tin hãy cùng truy cập website Win R&D nhé! Bài viết và hình ảnh được tổng hợp bởi Win R&D. -CÔNG TY CỔ PHẦN NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT WIN R&D WIN R&D là đơn vị cung cấp các sản phẩm dịch vụ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và sản xuất gia công chất lượng cho doanh nghiệp. Thương hiệu sở hữu đội ngũ nghiên cứu và quản lý sản xuất tài năng với gần 20 năm kinh nghiệm trong các nhà máy thực phẩm, thức uống tại thị trường Việt Nam, xuất khẩu. Chọn Win R&D - Chọn để thắng Website Fanpage Địa chỉ email admin Điện thoại liên lạc 0906 788 168 HQ L17-11, Tầng 17, Toà nhà Vincom Center Số 172 Lê Thánh Tôn, Phường Bến Nghé, Quận 1, Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. WIN R&D CENTER 36/8A Nguyễn An Ninh, KP Nhị Đồng 2, Thành Phố Dĩ An, Bình Dương, Việt Nam.
Thị trường đồ uống Việt Nam ngày càng được đa dạng hóa và được dự báo sẽ tăng trưởng tốt trong thời gian tới. Nội DungTiềm năng tăng trưởng thị trường thức uống Việt NamPhân khúc thị trường đồ uống Việt NamNhững ông lớn trong thị trường đồ uống Việt NamTruyền thông trong thị trường đồ uống Với tốc độ tăng trưởng hàng năm của thị trường thức uống được dự báo là 6% đến năm 2020, ngành công nghiệp đồ uống tại Việt Nam là một trong những ngành hàng tiêu dùng nhanh tăng trưởng cao nhất. Tiêu thụ nước giải khát ước tính đạt 81,6 tỷ lít vào năm 2016 với triển vọng đạt 109 tỷ lít vào năm 2020. Yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng Người tiêu dùng Việt Nam đang chuyển sang tiêu thụ đồ uống có giá trị cao hơn, tạo ra những khoảng trống để thâm nhập vào các phân khúc đồ uống cao cấp. Mặc dù cả các công ty trong và ngoài nước đã cố gắng hành động để đáp ứng với sự thay đổi này, các công ty nước ngoài hiện đang gặp khó khăn do việc sử dụng các thương hiệu quốc tế của người tiêu dùng Việt Nam. Bên cạnh sự cải thiện về hồ sơ nhân khẩu học, cần lưu ý rằng người tiêu dùng Việt Nam là những người có ý thức về sức khỏe nhất ở Đông Nam Á, kêu gọi các nhà sản xuất bắt đầu suy nghĩ lại về các dịch vụ thị trường nhằm điều chỉnh danh mục sản phẩm tốt cho sức khỏe như nước ép trái cây hoặc trà thảo dược. Với tỷ lệ dân số trẻ ngày một cao ước tính khoảng trên 50% dân số Việt Nam dưới 30 tuổi, mức thu nhập được cải thiện và thói quen mua sắm thực phẩm chế biến sẵn ngày càng phổ biến, sự phong phú cùng với sự dồi dào các sản phẩm nông nghiệp – nguồn nguyên liệu thô cung ứng cho hoạt động chế biến thực phẩm, đồ uống… đang là những lợi thế để các doanh nghiệp trong ngành đa dạng hóa chủng loại sản phẩm. Phân khúc thị trường đồ uống Việt Nam Trên thị trường đồ uống, đồ uống có cồn gồm bia, rượu vang, rượu mạnh là ngành hàng lớn nhất, chiếm tới hơn 70% tổng giá trị bán lẻ đồ uống. Mặc dù nhận được mức tăng trưởng kép hàng năm khiêm tốn CAGR là 3,5% cho đến năm 2020, ngành bia ở Việt Nam được coi là có cơ hội lớn để đầu tư vì mức tiêu thụ của đất nước nằm trong top 10 của khu vực châu Á và có mức tiêu thụ bình quân đầu người thuận lợi ở mức 42 lít vào năm 2020. Các ngành rượu và rượu mạnh và đồ uống không cồn cũng được dự báo có tỷ lệ 8% – và 6,1% dự báo của BMI, tốc độ tăng trưởng thực tế về sản lượng tiêu thụ bia sẽ vượt mức 24,9% vào năm 2018. Xét về tốc độ tăng trưởng, cà phê là sản phẩm có mức tăng cao nhất trên 14%, do cà phê đang dần trở thành “sự lựa chọn hàng đầu của giới trẻ” tại Việt Nam trong thời gian vừa qua. Đồng thời, sự gia tăng về thu nhập của nhóm đối tượng này cũng đòi hỏi các sản phẩm có giá trị chất lượng cao hơn, thúc đẩy sự tăng trưởng cả về chất và lượng của ngành cà phê. Cũng là sản phẩm chủ yếu dành cho giới trẻ, nước ngọt và nước ngọt có ga cũng đang dần chiếm được thị phần khá lớn và tăng trưởng ổn định chỉ sau cà phê. Cùng với sự phát triển của đồ ăn nhanh tại Việt Nam trong những năm gần đây, đồ uống có ga, điển hình như Pepsi hay Coca Cola, đang phải cạnh tranh khốc liệt để giành sự quan tâm lựa chọn của khách hàng. Không chỉ dừng ở việc tích cực đầu tư cho quảng cáo và định vị thương hiệu thông qua tất cả các kênh truyền thông từ báo in, truyền hình đến internet, các hãng sản xuất đồ uống có ga này cũng đang nỗ lực thay đổi cả mẫu mã và bao bì đóng chai nhằm khác biệt hóa, thu hút khách hàng và tăng doanh thu bán hàng trong năm. Những ông lớn trong thị trường đồ uống Việt Nam Ngày 31/10/2018, Vietnam Report chính thức công bố Top 10 Công ty uy tín ngành thực phẩm – đồ uống năm 2018. Các công ty được đánh giá, xếp hạng dựa trên 3 tiêu chí chính Thứ nhất, năng lực tài chính thể hiện trên báo cáo tài chính năm gần nhất tổng tài sản, tổng doanh thu, lợi nhuận, hiệu quả hoạt động, hiệu quả sử dụng vốn…; Thứ hai, Uy tín truyền thông được đánh giá bằng phương pháp Media Coding – mã hóa các bài viết về công ty trên các kênh truyền thông có ảnh hưởng; Thứ ba, khảo sát người tiêu dùng về mức độ nhận biết và sự hài lòng với các sản phẩm/ dịch vụ của công ty; Khảo sát chuyên gia đánh giá vị thế của các công ty trong ngành; và Khảo sát doanh nghiệp được thực hiện trong tháng 9/2018 về quy mô thị trường, lao động, vốn, tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, kế hoạch hoạt động trong năm 2018… Trong số 10 doanh nghiệp đồ uống uy tín, Tập đoàn Tân Hiệp Phát đứng vị trí thứ 5. Tân Hiệp Phát là doanh nghiệp Việt duy nhất năm trong Top 5 công ty đồ uống uy tín năm 2018 mà chỉ sản xuất sản phẩm nước giải khát không có cồn, không có gas có lợi cho sức khỏe. 4 vị trí dẫn đầu là 2 doanh nghiệp sản xuất bia, 2 doanh nghiệp sản xuất đồ uống có gas là chủ lực. Truyền thông trong thị trường đồ uống Theo nhận định của Vietnam Report, truyền thông có vai trò quan trọng trong việc kết nối trực tiếp giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, giúp người tiêu dùng nhận diện thương hiệu uy tín tốt hơn khi đưa ra quyết định mua sắm. Tuy nhiên, kết quả phân tích truyền thông cho thấy, sự hiện diện trên truyền thông của các doanh nghiệp ngành thực phẩm, đồ uống hiện còn hạn chế. Chỉ 22,9% số doanh nghiệp được nghiên cứu có lượng thông tin đạt ngưỡng nhận thức, trong đó 44% có tần suất xuất hiện tối thiếu 1 lần/ 1 tháng. Về độ đa dạng thông tin, 27,4% số doanh nghiệp có thông tin bao phủ 10/24 số nhóm chủ đề có liên quan tới hoạt động của doanh nghiệp. 3 nhóm chủ đề thường được đề cập đến nhiều nhất Tài chính/ Kết quả kinh doanh, Cổ phiếu, Sản phẩm. Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là “an toàn” khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng “tốt nhất” là trên 20%. Trong ngành thực phẩm – đồ uống, hiện có khoảng hơn 40% số doanh nghiệp đạt mức 10% này. Babuki sẵn lòng hỗ trợ, tư vấn anh/ chị về các thông tin thị trường hữu ích, đầu tư/ gọi vốn và giải pháp công nghệ. Anh/ chị có thể BẤM ĐỂ GỬI YÊU CẦU TỚI BABUKI. Các bài viết liên quan về phân tích thị trường Việt Nam
Báo cáo ngành F&B Việt Nam 2023 bao gồm số liệu thống kê từ GSO, Statista & ý kiến chuyên gia về xu hướng phát triển thị trường thực phẩm & đồ uống đến bài viết này[ Hide ]Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2023Tổng quan tình hình thị trường F&B Việt Nam năm 2023Ngành F&B bao gồm những phân khúc nào?Dự báo xu hướng phát triển ngành thực phẩm Việt Nam từ 2023 – 2027Tóm lại về báo cáo ngành F&B Việt Nam 2023Trong báo cáo Vietnam F&B Industry Report 2022, bạn đã xem qua xu hướng phát triển của ngành thực phẩm và đồ uống Việt Nam dựa trên các số liệu của Kantar và Tổng Cục Thống Kê tính đến tháng 10/ nhiên, có rất nhiều biến động về kinh tế, xã hội đã diễn ra trong giai đoạn cuối năm 2022, đầu năm 2023 ảnh hưởng lớn đến tình hình phát triển của thị trường, do đó, hãy xem qua một vài số liệu thống kê được tôi tổng hợp từ GSO và Statista cho ngành năm ngành F&B tại Việt Nam năm 2023 và dự đoán tình hình phát triển đến năm ý Bài viết này đã được đăng ký bảo hộ bản quyền nội dung trên DMCA ngày 28/04/2023 Link đăng ký vui lòng trích dẫn nguồn và kèm link bài viết nếu muốn đăng tải lại thông tin trên website hình kinh tế xã hội Việt Nam năm 2023Các chỉ số kinh tế cơ bảnSo với Q1/2022, tình hình kinh tế Việt Nam đầu năm 2023 có khởi sắc hơn khi GDP Q1/2023 cao hơn nhờ vào sự tăng trưởng ở khối ngành Nông lâm ngư nghiệp và khối ngành Dịch vụ, trong khi khối ngành Công nghiệp Xây dựng bị suy giảm dù vậy, các số liệu thống kê về tốc độ tăng trưởng GDP theo Quý của Việt Nam từ năm 2018 đến nay cho thấy kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng chậm lại, do hệ quả từ tác động của dịch Covid-19, chiến sự giữa Nga – Ukraine và lạm đồ tăng trưởng GDP Việt Nam từ Q1/2021 đến Q1/2023 so với cùng kỳ năm trước Nguồn dữ liệu Tổng Cục Thống Kê; Nguồn hình ảnh này cũng khiến cho chỉ số giá tiêu dùng tiếp tục tăng mạnh trong Q1/2023, cao hơn so với cùng kỳ năm trước, tác động rất lớn đến khả năng chi tiêu mua sắm của người tiêu dùng Việt Nam trong giai đoạn đầu năm kê % thay đổi CPI của Việt Nam từ Q1/2021 đến Q1/2023 Nguồn hình ảnh quan tình hình thị trường F&B Việt Nam năm 2023F&B là viết tắt của cụm từ Food And Beverage, thường được gọi là ngành Thực phẩm & Đồ uống, ám chỉ mảng sản xuất, kinh doanh các sản phẩm dùng để ăn uống không bao gồm thuốc men và các loại thực phẩm chức năng hấp thụ qua đường tiêu hóa.Theo báo cáo Q1/2023 của Tổng Cục Thống Kê, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành đồ uống cao hơn so với Quý 1/2022, giảm từ mức tăng trưởng ở thời điểm Q3/2022 so với cùng kỳ năm này cho thấy thị trường đồ uống đã mất động cơ tăng trưởng mạnh từ hoạt động mở cửa nền kinh tế sau dịch Covid-19, và ngành sản xuất đồ uống của Việt Nam đang có xu hướng quay lại với mốc tăng trưởng ở thời kỳ trước dịch.% thay đổi chỉ số sản xuất công nghiệp theo quý của ngành đồ uống so với cùng kỳ năm trước, giai đoạn từ Q1/2018 – Q1/2023 Nguồn GSO, khi đó, chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành thực phẩm Việt Nam ở quý 1/2023 cao hơn so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng trưởng ở thời điểm trước dịch Covid-19.% thay đổi chỉ số sản xuất công nghiệp theo quý của ngành thực phẩm so với cùng kỳ năm trước, giai đoạn từ Q1/2018 – Q1/2023 Nguồn GSO, này cho thấy hoạt động sản xuất thực phẩm đang gặp một số vấn đề khó khăn, mà nguyên nhân chính có thể đến từ việc yếu tố lạm phát tăng cao khiến cho nhu cầu tiêu thị của thị trường bị giảm sút, đồng thời đẩy chi phí sản xuất lên mức trong phạm vi khu vực Đông Nam Á, quy mô thị trường F&B Việt Nam năm 2022 ở mức 26 tỉ USD, so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam ÁPhân khúc thị trường thực phẩm trong ngành F&BThị trường thực phẩm trong ngành F&B ám chỉ hoạt động kinh doanh tất cả các loại thực phẩm giúp bổ sung giá trị dinh dưỡng cho cơ thể, bao gồm cả thực phẩm tươi sống và thực phẩm chế trường thực phẩm được chia thành 13 phân khúc như sauSản phẩm từ sữa & Trứng bao gồm các sản phẩm từ động vật, chẳng hạn như sữa, trứng và các sản phẩm làm từ sữa của động vật có vú và các sản phẩm phi động vật, chẳng hạn như sản phẩm thay thế sữa. Phân khúc này được chia thành sáu phân khúc nhỏ bao gồm sữa, sản phẩm thay thế sữa, sữa chua, pho mát, trứng và các sản phẩm từ sữa và trứng bao gồm các sản phẩm động vật, chẳng hạn như thịt lợn, thịt gia cầm và các sản phẩm không chứa thịt, chẳng hạn như sản phẩm thay thế thịt. Phân khúc này được chia thành ba phân khúc nhỏ, gồm có thịt tươi, thịt chế biến và sản phẩm thay thế & Hải sản bao gồm các sản phẩm làm từ cá và hải sản. Phân khúc này được chia thành ba phân khúc nhỏ, gồm có cá tươi, hải sản tươi sống và cá & hải sản chế cây và Hạt bao gồm các loại trái cây và hạt ăn được. Phân khúc này được chia thành ba phân khúc nhỏ trái cây tươi, trái cây chế biến và đông lạnh, và các loại củ bao gồm các loại rau ăn được. Phân khúc này được chia thành hai phân khúc nhỏ, gồm có rau tươi, rau chế biến và rau đông mì & Ngũ cốc bao gồm các loại bánh nướng làm từ bột nhào và các sản phẩm làm từ ngũ cốc thường được sử dụng như một phần của bữa ăn chính. Phân khúc này được chia thành năm phân khúc nhỏ, gồm có bánh mì, mì ống, gạo, ngũ cốc ăn sáng và các sản phẩm ngũ cốc và Chất béo bao gồm cả dầu ăn và chất béo làm từ động vật và thực vật. Phân khúc này được chia thành bốn phân khúc nhỏ, gồm có bơ, bơ thực vật, dầu ăn và các loại dầu & chất béo sốt & Gia vị bao gồm các nguyên liệu bổ sung được sử dụng trong quá trình chế biến thực phẩm và được chia thành ba phân khúc nhỏ, gồm có tương cà, các loại nước sốt khác, gia vị và thảo mộc ẩm phẩm tiện lợi bao gồm thực phẩm chế biến sẵn và các bữa ăn đòi hỏi ít nỗ lực để chuẩn bị. Phân khúc này được chia thành hai phân khúc nhỏ, súp và bữa ăn phết và Chất làm ngọt bao gồm các thực phẩm dạng đặc sệt dùng để quét phết lên thực phẩm và nguyên liệu tạo độ ngọt cho thực phẩm hoặc đồ uống. Phân khúc này được chia thành hai phân khúc nhỏ, gồm có chất phết và chất làm kẹo & Đồ ăn vặt bao gồm hai phân khúc nhỏ là bánh kẹo và đồ ăn ăn trẻ em bao gồm các loại thực phẩm chỉ dành cho trẻ sơ sinh và trẻ ăn cho vật nuôi bao gồm thức ăn chỉ dành cho vật khúc thị trường đồ uống trong ngành F&BThị trường đồ uống trong ngành F&B đề cập đến việc sản xuất các loại đồ uống có cồn và không cồn, bao gồm nước, nước ngọt, nước ép trái cây, trà, cà phê, bia, rượu vang, rượu mạnh và đồ uống có cồn trường đồ uống được chia thành ba phân khúc chính như sauĐồ uống có cồn bao gồm tất cả các loại đồ uống có cồn được sản xuất bằng phương pháp lên men hoặc chưng cất. Phân khúc này được chia thành năm phân khúc nhỏ, gồm có bia, rượu mạnh, rượu vang, rượu không làm từ nho hoặc ngũ cốc, và Hard uống không cồn bao gồm tất cả các loại đồ uống không chứa cồn, nhưng loại trừ các loại đồ uống nóng như cà phê, trà, uống nóng bao gồm các loại cà phê, trà và ca cao cần sử dụng nước nóng để pha chế trước khi uống. Phân khúc này không bao gồm các loại thức uống đóng chai có nguồn gốc từ trà, cà phê và ca báo xu hướng phát triển ngành thực phẩm Việt Nam từ 2023 – 2027Dự báo doanh thu từ phân khúc thực phẩm của Việt NamTheo dự báo của Statista, thị trường thực phẩm của Việt Nam trong năm 2023 sẽ đạt mức tỉ USD, tăng 9% so với năm 2022, và tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong giai đoạn từ 2023 – 2027 đạt khoảng báo doanh thu ngành thực phẩm Việt Nam từ năm 2014 – 2022 và dự báo từ 2023 – 2027 Nguồn Statista, 03/2023Như vậy, doanh thu của ngành thực phẩm Việt Nam nhỏ hơn khoảng lần so với thị trường Trung Quốc, khi thị trường này được dự báo sẽ đạt mức ngàn tỉ USD vào năm số các phân khúc của ngành thực phẩm Việt Nam, phân khúc Bánh kẹo và Đồ ăn nhẹ chiếm tỉ trọng lớn nhất là với khối lượng thị trường đạt khoảng tỉ USD trong năm ý rằng, doanh thu đến từ mảng bán thực phẩm trực tuyến chỉ chiếm khoảng tổng doanh thu của ngành, nói cách khác, người tiêu dùng Việt Nam vẫn thích mua sắm thực phẩm tại các cửa hàng, siêu thị bán lẻ hiện đại và chợ truyền thống thay vì đặt hàng đây là bảng so sánh ngành thực phẩm Việt Nam so với các quốc gia Đông Nam Á khácDự báo doanh thu ngành thực phẩm của 11 quốc gia Đông Nam Á trong năm 2023 Nguồn Statista, 03/2023Quốc giaDoanh thu 2023Tăng trưởng so với 2022Tốc độ gia tăng trung bình hàng năm, 2023 – 2027Việt tỉ USD9% tỉ tỉ USD10% tỉ tỉ tỉ triệu tỉ tỉ tỉ triệu so sánh trong phạm vi Đông Nam Á, ngành thực phẩm Việt Nam đang xếp thứ ba sau Indonesia và Philippines, tốc độ tăng trưởng dự kiến so với 2022 xếp thứ tám, và tốc độ phát triển thị trường bình quân CAGR đến năm 2027 xếp thứ hai so với các quốc gia trong khu tìm hiểu chi tiết về xu hướng phát triển của 13 thị trường nhỏ trong phân khúc Thực phẩm của Việt Nam, hãy xem bài viết Báo cáo ngành thực phẩm Việt Nam 2023 và xu hướng đến 2027Dự báo doanh thu từ phân khúc Đồ uống của Việt NamTheo số liệu tháng 3/2023 của Statista, doanh thu thị trường đồ uống của Việt Nam trong năm 2023 sẽ đạt mức tỉ USD, trong đó, phân khúc Đồ uống không cồn và Đồ uống nóng đóng góp tỷ trọng cao nhất lần lượt là và và cũng là hai phân khúc có tốc độ tăng trưởng cao thể, theo dự báo, phân khúc Đồ uống không cồn sẽ đạt mức doanh thu tỉ USD trong năm 2023, cao hơn so với năm 2022, và tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm trong giai đoạn từ 2023 – 2028 đạt báo doanh thu từ phân khúc thị trường Đồ uống không cồn tại Việt Nam năm 2023 Nguồn Statista, 03/2023Trong khi đó, phân khúc Đồ uống nóng sẽ đạt doanh thu tỉ USD vào năm 2023, cao hơn 10% so với doanh thu 2022, và tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm từ 2023 đến 2028 là báo doanh thu từ phân khúc thị trường Đồ uống nóng tại Việt Nam năm 2023 Nguồn Statista, 06/2022Ngược lại, phân khúc Đồ uống có cồn dự kiến sẽ đạt doanh thu tỉ USD trong năm 2023, giảm so với năm 2022, chủ yếu do tác động của Nghị định 100/2019/NĐ-CP của chính phủ khiến người tiêu dùng Việt Nam ngần ngại tiêu thụ các loại rượu bia để tránh bị xử báo doanh thu từ phân khúc thị trường Đồ uống có cồn tại Việt Nam năm 2023 Nguồn Statista, 01/2023Bên cạnh đó, hoạt động tăng cường kiểm soát việc tuân thủ các quy định phòng cháy chữa cháy tại Việt Nam từ năm 2022 vẫn đang được các cơ quan nhà nước tiếp tục triển khai, khiến hàng loạt quán karaoke, quán bar và vũ trường ngừng hoạt động, tác động rất lớn đến khả năng tiêu thụ các loại đồ uống có lại về báo cáo ngành F&B Việt Nam 2023Như vậy, bạn đã xem qua các số liệu thống kê về ngành F&B Việt Nam và dự báo của các chuyên gia về xu hướng phát triển của thị trường này từ năm 2023 đến năm liệu thống kê trong bài viết này được tôi tổng hợp chủ yếu từ website của Tổng Cục Thống Kê và đánh giá của các chuyên gia phân tích từ Statista nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính chính xác của nguồn thông giờ, nếu bạn có bất kỳ câu hỏi nào về báo cáo ngành F&B Việt Nam năm 2023, hãy để lại ý kiến của mình trong phần bình luận của bài viết này nhé.
thị trường đồ uống việt nam